Tháp Đôi, Quy Nhơn - Chuyến xe về quá khứ

Cầu Đôi liền với Tháp Đôi
Quanh năm quấn quýt như tôi với nàng.

Tháp Đôi thì chắc t không cần phải giới thiệu gì với các bạn nữa đúng không? Về nguồn gốc, kiến trúc hay giá trị lịch sử của nó, các bạn có thể dễ dàng tìm thấy trên mạng. Nhưng bắt đầu từ bài viết này, t muốn kể một câu chuyện khác một câu chuyện của thời gian, của sự thay đổi, của ký ức – qua những hình ảnh cũ và mới mà t may mắn có được. Không phải là hành trình từ quá khứ đến hiện tại như mọi khi, mà là một chuyến xe ngược dòng thời gian. Bắt đầu nào.

Những năm 1992

Chuyến xe của chúng ta đang đi rất nhanh, chạy xuyên suốt 34 năm quay về năm 1992.

Lúc này, Việt Nam vừa mới thoát khỏi thời kỳ bao cấp, còn đang chật vật hồi phục sau sự sụp đổ của hàng loạt nước xã hội chủ nghĩa. Đất nước nghèo, nhưng lòng người thì đầy khát vọng. Ta đang chập chững đứng lên, mời gọi du khách đến Việt Nam.

Vào một ngày đẹp trời, một du khách người Đức đi lạc đến ngôi tháp này và quyết định chụp lại vài tấm hình. Không ngờ, những tấm hình ấy lại trở thành những tài liệu quý giá nhất để chúng ta hôm nay nhìn lại một chặng đường.



Ảnh 1992 
chụp bởi Hans-Peter Grumpe

Ảnh 2023

Hãy nhìn những bức ảnh năm 1992 bên trên, so sánh với ảnh ngày nay. Thật bất ngờ, Tháp Đôi năm 1992 đã trông khá tươm tất, gần giống với hiện tại. Điều đó cho thấy dù khó khăn, chính quyền lúc ấy đã bắt đầu quan tâm đến di sản văn hóa. Dưới chân tháp, ta thấy gì? Những cục đá chèo chống để ngăn tháp sụp đổ. Một cách làm hơi thô kệch, nhưng chân thành. Đó là sự cố gắng hết mức trong khả năng của một đất nước còn thiếu thốn đủ bề.

Ngày nay thì sao? Tháp Đôi hôm nay vẫn đứng đó, kiêu hãnh và cổ kính giữa lòng Quy Nhơn. Một ngày nắng trong veo, t đến và ngẩng đầu nhìn lên đỉnh tháp, thấy những cụm cây nhỏ chen ra từ các kẽ gạch – như thể thiên nhiên đang mượn tháp để sinh tồn. Dưới chân, những chậu bonsai được đặt ngay ngắn, vài cây dừa cảnh vươn cao che nắng. Mọi thứ dường như đã được chăm chút, chỉnh trang. Nhưng nếu nhìn kỹ, ta vẫn thấy những khối đá lớn nằm lặng lẽ ở chân tháp. Chúng được đắp vào như một phần của công trình, âm thầm chịu đựng nắng gió suốt bao năm, đến mức nhiều người tưởng đó là một phần nguyên bản của kiến trúc. Nhưng thật ra, chúng chỉ là những khối đá chống đỡ tạm thời được đặt vào từ những ngày gian khó.

Điều này thật đáng trách. Vì ngày nay chúng ta thừa sức phục dựng lại, nhưng lại không làm. Cái tâm thái của chúng ta ngày nay đối với di sản văn hóa, phải chăng còn thua các bậc đàn anh cách đây mấy mươi năm?

Dù vậy, cũng phải công nhận một điều: phần đỉnh tháp đã được phục dựng lại tương đối đầy đủ, những viên gạch được đặt cẩn thận hơn, có tính thẩm mỹ hơn. Có thể nói thế hệ hôm nay cũng có nỗ lực riêng, chỉ tiếc là chưa đủ quyết liệt, chưa đủ sâu sắc để gọi là trọn vẹn.

Một cảnh làm t phải bật cười xen lẫn xúc động khi nhìn mấy bức ảnh xưa, là cảnh mấy đứa nhỏ năm 92 bu quanh ông Tây lạ hoắc, đang hí hoáy bấm máy. Tụi nhỏ tò mò thấy rõ, kiểu như đang nghĩ: "Ủa, người ngoài hành tinh à? Sao da trắng dữ vậy?". Mà đúng thôi, thời đó người nước ngoài hiếm lắm, nhất là ở cái xứ Bình Định còn chưa có nhiều khách sạn, quán cà phê sang như bây giờ. Ông Tây chắc lúc đó cũng sướng rơn vì được mấy đứa nhỏ xứ lạ vây quanh, như ngôi sao điện ảnh.


Ảnh 1992 
chụp bởi Hans-Peter Grumpe

Giờ nghĩ lại, tụi nhỏ năm ấy chắc giờ cũng đã U40 hết rồi. Có khi đang cầm tay con dắt đi tham quan lại Tháp Đôi, rồi trầm ngâm nhớ lại hồi đó từng đứng đúng chỗ này, chỉ để nhìn chằm chằm một ông da trắng đang... chụp hình tháp. Mà biết đâu, trong số mấy đứa nhỏ đó có người đang đọc bài viết này cũng nên. Nếu có, thì nhớ comment cho t biết nha!

Và hành trình của chúng ta mới chỉ bắt đầu. Hãy lướt xuống dưới, chúng ta sẽ tiếp tục ngược dòng xa hơn nữa – về những năm 70, rồi 60... để xem Tháp Đôi của cha ông ta ngày ấy trông như thế nào nha.

Năm 1969

Chuyến xe thời gian của chúng ta tiếp tục lăn bánh trở về năm 1969. Dừng lại chút nào, hít hà không khí nửa thế kỷ trước, rồi nhìn ngắm Tháp Đôi xem có gì thay đổi không nhé.

Trước mắt chúng ta là bức ảnh năm 1969. Nhìn tổng thể, tháp lớn lúc này vẫn còn phong độ, chân đứng vững, ngọn tuy có hơi bị gió sương "tác động vật lý" một chút nhưng nhìn chung vẫn ra dáng. Riêng tháp nhỏ thì… thôi khỏi nói, cái đầu gần như đi du lịch không vé về, bị phong hóa nặng đến mức trông như vừa bị thiên thạch ghé qua.

Tháp Đôi 1969

chụp bởi GRANT MCRORIE

Nhìn bức ảnh năm 1993, so sánh với năm 1969, có một chi tiết khiến ta giật mình: phần chân của tháp lớn, vốn trước đó còn nguyên, giờ đã bị "nhân hóa" một mảng rõ to. Nếu hơi có trí tưởng tượng, bạn sẽ thấy một khung cảnh rất sống động hiện ra: một bác nông dân, giữa những năm tháng hậu chiến thiếu thốn, mắt sáng lên như bắt được vàng khi phát hiện nguồn cung gạch siêu bền ngay sát nhà mình. Và thế là… chuồng heo nhà bác được xây nên từ những viên gạch nghìn năm tuổi, hẳn là chuồng heo phong cách Champa đầu tiên và quý giá nhất Việt Nam.

Tất nhiên, thời đó ai cũng khó khăn, chuyện tận dụng mọi thứ xung quanh để phục vụ cuộc sống là dễ hiểu. Nhưng tận dụng luôn cả gạch của tháp cổ thì hơi... quá nhiệt tình. Lúc đó, Tháp Đôi vẫn chưa được xếp hạng gì cả, nên mấy viên gạch cũng chưa có "hộ khẩu" văn hóa. Mãi đến năm 1980, khi tháp chính thức được công nhận là di tích Kiến trúc Nghệ thuật, người ta mới bắt đầu để mắt, và từ đây, chuyện “xin gạch” về xây chuồng heo cũng… dần trở thành huyền thoại.

À, nói đến đây mới nhớ, có một chuyện buồn cười muốn kể bạn nghe. Khi tra thông tin trên mạng, có kha khá bài viết miêu tả phần chân tháp lớn hiện tại với những lời có cánh như: “Những khối đá to lớn, đen bóng, vững chãi…”. Sự thật, như t đã trình bày, đó chỉ là những khối đá chống sập, vậy mà giờ được khen nức nở như tác phẩm điêu khắc cổ đại. Cũng hay, không biết nên cười hay nên khóc đây.

Chúng ta sẽ dừng lại ở mốc thời gian này một chút nữa, để t có thời gian cho bạn xem một bức ảnh ấn tượng khác. Đó là toàn cảnh ngôi tháp. 

Toàn cảnh Tháp Đôi năm 1969

Chụp xong bức ảnh cận cảnh Tháp Đôi bên trên, t lại nổi hứng leo lên một ngọn đồi gần đó, lia máy ảnh về hướng đông nam để bắt cho được toàn cảnh ngôi tháp. Nói vậy cho có vẻ lãng mạn thôi, chứ thật ra ảnh này là của người ta chụp hồi xửa hồi xưa. T mà chụp được tấm hình này chắc cũng thành di tích luôn rồi.

Tháp Đôi 1969

chụp bởi GRANT MCRORIE

Từ vị trí đồi cao, bức tranh Quy Nhơn "quê" hiện ra rõ mồn một. Trung tâm "thành phố" ngày đó chủ yếu dồn về hai tuyến đường Gia Long (nay là Trần Hưng Đạo) và Võ Tánh (giờ là Lê Hồng Phong), còn lại thì hoang vắng đến lạ. Mắt t quét một vòng, toàn thấy nương xoai - đất trồng đậu, bắp, sắn – thứ “combo cây khô hạn” đặc sản một thời.

Phía dưới bên phải là vài ngôi mộ cùng một khóm nhà tranh. Đường Tháp Đôi thì chỉ lác đác vài ngôi nhà gạch. Hèn chi, ai cũng bảo ngày xưa đất Quy Nhơn rẻ như cho. Phải rẻ thôi chớ, đang ở giữa "thành phố" mà hễ chọc cuốc xuống là trúng gốc đậu phộng, ai dám thách giá cao?

Tưởng tượng chút, thời đó khu này chưa có điện. Ban đêm trăng sáng, bước ra ngoài là gặp ngay cái tháp đen thui sừng sững như ông thần canh nương. Trẻ con gan lì cỡ nào khi đi ngang cũng phải vắt chân lên cổ chạy, chứ không thì đêm đó nằm mơ thấy tháp biết đi là chuyện thường.

Còn nhìn ảnh 2023? Trời ơi, khác một trời một vực. Giờ tháp được “ôm ấp” giữa lòng thành phố, nhà nhà vây quanh như các fan hâm mộ đứng canh cổng idol. Cây xanh che bóng, đường nhựa trải êm, dân cư đông đúc. Tháp Đôi giờ từ vai ông kẹ đã chuyển mình thành hot tiktoker, được chụp ảnh, quay phim mỗi ngày.

Chuyển qua bức ảnh vệ tinh, ta chợt ngẩn người phát hiện: mấy con hẻm ngoằn ngoèo trên đường Tháp Đôi bây giờ, thì ra chính là những bờ xoai – ranh giới giữa các mảnh đất trồng bắp, đậu phộng ngày xưa. Chẳng biết các ông chủ ruộng ngày ấy có từng nằm gác tay lên trán mà tiếc nuối mảnh đất “chó ăn đá, gà ăn sỏi” mình đã bán rẻ như cho không? Nay thì ruộng thành hẻm, hẻm hóa phố, phố lên giá... mà tháp thì vẫn đứng đó, im lặng cười ruộng xưa.

Ảnh vệ tinh cùng vị trí

Thôi, lên hình xong rồi, đã đến lúc lên xe tiếp tục cuộc hành trình tiến về... quá khứ. Nhưng trước tiên, t phải xuống ngọn đồi này đã. Ui là trời, lên thì hào hứng lắm, mà xuống sao thấy chân run run. À, ngọn đồi này nằm dọc theo đường Hoa Lư. Có người nói với tôi nó tên là đồi Núi Một.

Năm 1955

Chuyến xe của t đi chầm chậm, bởi vì t đang băng qua thời kỳ chiến tranh khốc liệt do sự tham chiến trực tiếp của Mỹ tại Việt Nam. T quyết định chọn một mốc thời gian gần thử xem sao, đó là năm 1955, cách cột mốc trước 14 năm (1969). Đây là thời điểm Mỹ nhảy vào miền Nam, thành lập chính quyền VNCH.

T ra lệnh dừng lại, và chiếc xe quẳng t vào một bụi rậm. Quái, t tham quan Tháp Đôi chứ không phải đi rừng. Đưa t vào rừng chi, có lộn không vậy. T lồm cồm bò dậy, ngước mắt nhìn lên. Tháp Đôi vẫn đứng đó, không khác xưa nhiều. Nhầm, không khác 14 năm sau nhiều. Nhưng xung quanh nó toàn là cây dại, lớn bé xen kẽ, tưởng không còn đường vào.

Ảnh 1955 

Chiếc điện thoại thần thánh của t đã hóa thành một cái máy ảnh đen trắng to tổ bố, cổ lổ sĩ đúng chuẩn thập niên 50. Thôi thì có gì xài nấy, thời buổi này mà sở hữu máy ảnh là cũng thuộc dạng đại gia rồi. T ráng chụp một tấm ảnh, rồi âm thầm dùng AI tô vẽ một chút, cho thế hệ sau nhìn dễ chịu hơn. Bạn đừng hỏi tôi tại sao thời này lại có AI nha.

Lúc này Tháp Đôi tên là Tháp Hưng Thạnh, gắn với tên làng Hưng Thạnh. Nhưng nhìn cây dại ngập mặt chứng tỏ nơi này dân cư không còn, cái tên làng Hưng Thạnh và tháp Hưng Thạnh bắt đầu ít được gọi tên. Sau 14 năm, cùng với sự phát triển nhanh của thị xã Qui Nhơn, cộng với áp lực di dân từ nông thôn lên thành thị do chiến tranh, dân cư mới dần đến đây khai hoang, sinh sống trở lại. Rồi cái tên Tháp Đôi ra đời, một cái tên dễ nhớ, dễ hình dung hơn.

Cuộc sống vốn là một vòng lặp. Người Chăm từng đến, rồi lặng lẽ rời đi. Người Việt cũng từng đặt chân, rồi mảnh đất này cũng chẳng thể níu giữ mãi. Họ đến, họ đi, họ kết tinh ra một tộc người - người Kinh. Người Kinh thật ra không phải là một tộc người thuần nhất. Cái tên ấy, qua thời gian, đã trở thành biểu tượng của sự giao thoa – là kết quả của bao lớp người, bao dòng máu hội tụ về từ khắp nơi. T nói điều này, nhiều bạn chưa tìm hiểu thấu đáo sẽ phản đối lắm. Dễ hiểu thôi, khi ai cũng bảo 1+1=2. Có người nói 1+1=3 thì chắc chắn là sai rồi phải không?

T sẽ tiếp tục cuộc hành trình của mình về quá khứ. Chặng đường phía trước có điều gì đón chờ đây? Trước khi đi, T ngắm nhìn Tháp Đôi kỹ càng hơn và nhận ra rằng: tuy quanh tháp là cây dại, nhưng tháp vẫn tương đối "sạch sẽ". Vẫn có bàn tay con người săn sóc, tuy không được chu đáo. Người Chăm vẫn hiện diện quanh đây, tôn thờ và hướng về thần linh của họ... ngàn đời.

Và bạn, người Bình Định, người Kinh, có khi nào bạn ngước nhìn Tháp Đôi và cảm thấy mối liên hệ nào không? Có đó. Vì bạn cũng mang dòng máu Chăm trong người mà.

Năm 1925

Hành trình của t lại tiếp tục. T xuyên qua cuộc trường kỳ kháng Pháp với bao chiến công lừng lẫy, qua niềm hân hoan ngập tràn ngày lập quốc, rồi những tháng ngày đen tối dưới đế giày Nhật. Tiếp đến là những năm tháng nghèo nàn thê lương dưới cái gọi là “bảo hộ” của mẫu quốc Pháp. T chọn năm 1925 để dừng lại – tròn 30 năm ngược dòng kể từ phần trước.

Lúc này, Việt Nam đã “cơ bản ổn định” dưới sự bảo bọc hết sức mẫu mực của “mẹ hiền” Pháp quốc. Người Pháp thời này rất quan tâm đến ba đứa con nuôi ngoan ngoãn ở Đông Dương. Dân tình bên Tây cũng tò mò lắm, ai nấy đều háo hức muốn biết mấy đứa “con” của mình ở phương Đông trông thế nào, ăn ở làm sao.

T nhìn lại mình – giờ đã là một nhiếp ảnh gia Đông Dương chính hiệu, chuyên đi săn ảnh kỳ lạ cho tạp chí Pháp, thỏa mãn thị hiếu "exotique" của thiên hạ bên kia bán cầu.

Úi chà, cái máy ảnh của t giờ cổ hơn nữa rồi. Loay hoay mãi cũng bụp được một tấm ảnh đen trắng, rồi phù phép nó thành ảnh màu. Cơ bản, tháp không có nhiều biến đổi so với năm 1955. Có một điều là xung quanh tháp tương đối quang đãng. Chứng tỏ, làng Hưng Thạnh lúc này dân cư vẫn còn, tuy thưa thớt. Đang có một sự di cư nhẹ từ làng Hưng Thạnh (thuộc phủ Tuy Phước) đến thị xã Qui Nhơn, nơi phồn hoa mới nổi.

Ảnh 2025
chụp bởi Martin Hürlimann

Ngắm tháp một hồi, t bỗng phát hiện điều bất thường nơi chân tháp lớn, nhưng không quá rõ ràng. Không kìm được tò mò, t nhảy lên xe, vặn kim thời gian ngược thêm 6 năm. Xe đưa t đến năm 1919, và t ngỡ ngàng khi xác định chính xác nghi vấn của mình. Cái chân tháp lớn, một lần nữa bị ai đó mượn gạch xây chuồng heo. Suy nghĩ một lúc, t bật cười ngoặt nghẽo. Mọi việc đã sáng tỏ.

Ảnh 1919
chụp bởi René Tétart

Thì ra, câu chuyện là thế này. Nhiều năm trước, ông cố nội của bác nông dân mà t đề cập ở năm 1992, đã chôm vài cục gạch của tháp lớn làm việc riêng. Đến 1957, dưới thời VNCH, khi người Việt đã bắt đầu coi trọng văn hóa Chăm. Nhận thấy 2 chân tháp đã muốn rụng vì có người mượn gạch không chịu trả, nên phải tiến hành trùng tu. Phần chân tháp, các bác làm có tâm. Trùng tu bằng gạch giống nguyên bản nên trông cũng ổn áp. Rồi các bác làm phần ngọn. Nhưng rủi thay, giữa chừng hết tiền. Không biết tính sao, các bác "sáng tạo" bằng cách dùng xi măng. Thảo nào, ở bức ảnh năm 1969, phần ngọn tháp lớn có màu trắng. T cứ ngỡ nguyên nhân là do chói sáng.

Sau 1975, bác nông dân trên được sự mách bảo của cha ông, lại tìm đến xin gạch. T từng ngỡ chuồng heo của bác là tác phẩm Champa, xây bằng gạch ngàn năm. Ai dè... là hàng pha-ke. Hàng thiệt đã bị ông cố nội bác rinh đi từ xưa rồi.

Đến 1990, nhờ cú xin gạch định mệnh ấy mà tháp lớn suýt rụng. Tỉnh nhà lúc đó, dù nghèo vẫn phải móc hầu bao trùng tu. Phần chân tháp, làm lại tốn kém nên đành chêm tạm bằng vài cục đá tạc sơ qua. Phần ngọn, nhận thấy lớp xi măng quá chối, nên dỡ bỏ, thay bằng gạch giống bản gốc.

Hiện trạng ngày nay, phần chân tháp lớn vẫn là mấy cục đá chêm. Ngọn tháp vẫn còn vết tích xi măng xưa. Rồi du lịch phát triển, các vị làm du lịch không hiểu kỹ nhưng thích khen. Khen những cục đá chống đổ thành những khối đá nghìn năm vững chãi, đẽo gọt tinh tế. Kẻ lại ca ngợi mấy mảng xi măng là "khối định hình mỹ thuật". Có vị còn ví linga và yoni bên trong tháp như cối xay lúa, có bác thì bảo là cối và chày giã gạo. Người Chăm nghe thiên hạ ví von vật thiêng của họ như thế có buồn không nhỉ?

T nghĩ lại, các nhà nghiên cứu văn hóa Chăm... thâm thật. Họ thấy trên mạng nhiều thứ sai bét nhè nhưng chẳng buồn đính chính. Kiểu như: "Cứ khen thì có sai cũng chả sao. Khách đến nhiều là được". Chỉ có t – đứa tò mò và lắm chuyện – là ngứa mồm, muốn nói toạc cái gì trái tai gai mắt.

Mà thôi, cũng như người – không ai chọn được nơi mình sinh ra, cũng chẳng có ai giữ được trọn vẹn hình hài qua năm tháng.

T nhìn lại tháp lần nữa, rồi lẳng lặng lên xe. Chợt nhận ra – cái tháp không đổ, không chỉ nhờ những viên đá chêm. Nó đứng được, là nhờ có người, còn chịu nhìn ngược về sau. Và, khi còn ai đó muốn nghe, thì t vẫn còn muốn kể. Bạn còn muốn nghe không? T kể tiếp nhé.

Năm 1896

Chuyến xe của t đã băng qua hơn một thế kỷ. Có vẻ đã đi quá xa, muốn quên đường về. Nhưng sự tò mò trong máu khiến t không cưỡng lại được. Thế là t lại lên xe, nhấn ga xuyên qua từng lớp bụi mờ ký ức, rẽ vào khúc cua cong cong của thế kỷ 19, và dừng lại ở một buổi sáng năm 1896.

T nhận ra lúc này, t đang là Salles Firmin André, một nhà thám hiểm 35 tuổi, với túi tiền rủng rỉnh và chiếc máy ảnh to như cái rương, kè kè theo sau một đám người hầu lỉnh kỉnh phụ kiện.

T cảm giác như mình là chúa tể. T biết được tương lai và quá khứ của nơi này, của con người trong hình hài t đang trú ngụ. Đại Nam lúc này khá "yên bình". Cuộc nổi loạn cuối cùng mang tên Cần Vương đã tắt. "Đứa con" Đại Nam tuy có chút ngỗ nghịch, nhưng đã được dạy dỗ chu đáo, trở nên ngoan hiền, lễ phép.

Hôm nay, t đến làng Hưng Thạnh ngắm tháp. Và 33 năm sau, t sẽ một lần nữa trở lại ngôi làng với vai trò là Công sứ Bình Định và là người đề xuất sáp nhập làng Hưng Thạnh vào thị xã Qui Nhơn.

Nhưng giờ thì chưa. Giờ chỉ là một buổi sáng lạ, lặng, và... đẹp đến ngạt thở. T thấy ngôi tháp đứng trơ trọi giữa đám cây dại, rêu xanh phủ, rễ cây ôm đá, như một sinh vật cổ xưa đang thiếp ngủ. Ngôi tháp ấy không chỉ đẹp vì kiến trúc, mà đẹp vì quá điêu tàn. Điêu tàn và cô độc. Cô độc theo kiểu như một thứ gì đó sắp mất, nên nó tự nhiên sáng lên.





Các ảnh năm 1896

chụp bởi Salles Firmin André

T muốn chụp những tấm ảnh để đời về ngôi tháp - rồi "bán" chúng cho Thịnh - một tên dở hơi chơi Tiktok. Với Salles, mỗi tấm mất nửa tiếng canh chỉnh, rồi phải gửi kính âm bản về Hà Nội, chờ cả năm mới có ảnh. T âm thầm điều khiển cha này chụp nhiều chút. 5 bức được không nhỉ? Thế đủ rồi, đòi thêm nữa chắc Salles chụp đến tối. Đây là chuyến cuối mà, hốt đậm chút.

Phải để Salless tự chụp, vì t biết, không có những dấu ấn của ngày hôm qua, sẽ chẳng có sự hiện hữu của ngày hôm nay. Còn t, thần mà, búng tay một cái là có ảnh màu ngay, đặc biệt gửi riêng cho tên Thịnh dở hơi kia.

Ảnh gốc năm 1896

Trong lúc rảnh, t quay sang nhìn đám người hầu. T ở trong Selles nên bị chi phối tình cảm bởi ông ta. T không kinh thường họ, bởi vì họ không đáng khinh. Dưới mắt t, những con người này là những cái võng biết đi, những công cụ giúp việc. Một con trâu trong nhà, giúp bạn cày ruộng, bạn có khinh nó không? Nghĩ đến chuyện khinh thường một con trâu, t buồn cười quá. Nhưng lòng lại dâng lên chút bi thương khó tả.

Liếc mắt đến một tên hầu khác, t chợt khựng lại. Lòng nó xao động. Nó kính sợ t, sợ nhiều hơn kính. Nó kính sợ tháp, kính nhiều hơn sợ. T nhìn sâu vào nó, thấy cuộc đời của một con người nghèo khó, đơn điệu. Nó giống t quá. Mà không, giống... ông cố t. Gương mặt ấy, sống mũi ấy, làn da cháy nắng và đôi mắt mang hoài nghi của cả một dân tộc.

T rời Selles, gửi hồn vào ông cố mình. Một thế giới rộng mở trong tâm trí tôi. Thế giới chôn chặt trong trí người Chăm. Nơi chỉ có những ngọn tháp nâu tàn lụi, những bàn chân trần đi qua 600 năm buồn bã. Nơi đó, có thần Shiva. Thần nhìn t, thở dài hỏi:
- Ngươi thấy ta rồi. Vậy có tâm nguyện gì không?

T quỳ xuống, không phải vì sợ, mà vì không đứng nổi nữa. Cổ họng nghẹn lại, t buột miệng:
– Con muốn nơi này... đừng mất.

Thần nhìn t chốc lát, rồi cười:
- Nếu là cái tên mà ngươi đang mang thân xác sẽ không biết và không dám ước nguyện như vậy. Điều này tuy khó nhưng cũng không khó, khi lòng ngươi vẫn còn thì nơi này sẽ mãi không mất.

T cúi đầu, nước mắt không biết của ai cứ chảy. Là ông cố t khóc. Hay là cả tổ tiên của ông đang khóc. Khóc cho những thế kỷ bị lãng quên, cho ngọn tháp vẫn đứng mà người thì đã quên đường về.

Trước mắt t bỗng mông lung, mờ ảo. T choàng tỉnh, thì ra đang mơ. Nhìn đồng hồ, mới chỉ 2 giờ sáng. Hôm nay, gió mưa nhiều. Đang có bão. T tiếp tục nhắm mắt, nghĩ bụng: "Sao ngưu quá. Ước có chiếc VF8 không chịu. Ước chi cái trường tồn viển vông vậy trời!".

Rồi lại tự cười mình. Vì trong lòng t biết, nếu có ai đó cần phải nhớ – thì t vẫn sẽ còn muốn kể. Không phải vì t thích kể chuyện. Mà vì một ngày nào đó, sẽ có đứa, chạm vào ngọn tháp kia, và tự hỏi: “Chúng ta là ai, giữa những điều tưởng như đã mất?”.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến